- Tên phòng khám: Phòng khám Nội - Tim mạch - Ts. Bs. Phan Tấn Quang
- Chịu trách nhiệm: Ts. Bs. Phan Tấn Quang - Phó Giám đốc Bệnh viện, trưởng khoa Nội Tim mạch - BVĐKTW Quảng Nam
- Địa chỉ: Gần ngã tư 617 - Tam Hiệp, Núi Thành, Quảng Nam
- Giờ làm việc: Từ 17:00 đến 20:00 các ngày trong tuần và từ 08:00 đến 20:00 các ngày cuối tuần
- Số điện thoại liên hệ: 0974.687.046
Thận là cơ quan âm thầm làm việc mỗi ngày để lọc máu, đào thải chất độc, điều hòa nước, điện giải và góp phần kiểm soát huyết áp. Khi chức năng thận suy giảm, các chất thải tích tụ trong cơ thể, gây ảnh hưởng đến nhiều cơ quan và có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện sớm.
Suy thận hay tổn thương thận là tình trạng suy giảm chức năng của thận. Bệnh có thể diễn ra đột ngột trong thời gian ngắn hoặc tiến triển âm thầm qua nhiều năm. Điều đáng lo ngại là ở giai đoạn đầu, nhiều người bệnh hầu như không có triệu chứng rõ ràng nên dễ bỏ qua.
Khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh có thể bị phù, tăng huyết áp khó kiểm soát, thiếu máu, rối loạn điện giải, khó thở, mệt mỏi kéo dài và cuối cùng có thể cần điều trị thay thế thận bằng chạy thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc hoặc ghép thận.
Mỗi người bình thường có hai quả thận nằm ở vùng hông lưng. Tuy kích thước không lớn, thận lại đảm nhận nhiều chức năng sống còn. Chức năng được biết đến nhiều nhất là lọc máu để tạo nước tiểu, qua đó loại bỏ các chất thải và lượng nước dư thừa ra khỏi cơ thể.
Ngoài ra, thận còn giúp điều hòa huyết áp, cân bằng các chất điện giải như natri, kali, canxi, phospho, tham gia duy trì độ toan kiềm của máu và góp phần kích thích tủy xương tạo hồng cầu. Vì vậy khi thận suy, người bệnh không chỉ có biểu hiện ở đường tiểu mà còn có thể gặp rối loạn toàn thân.
Suy thận là tình trạng thận không còn thực hiện tốt chức năng lọc máu và đào thải chất thải. Khi đó, các chất độc, dịch dư thừa và rối loạn điện giải có thể tích tụ trong cơ thể.
Về lâm sàng, suy thận thường được chia thành hai nhóm chính là suy thận cấp và suy thận mạn.
Suy thận cấp thường diễn ra trong vài giờ đến vài ngày. Nếu được phát hiện và điều trị đúng nguyên nhân, chức năng thận có thể hồi phục hoàn toàn hoặc một phần sau một thời gian.
Suy thận mạn là tình trạng tổn thương thận kéo dài, tiến triển từ từ và thường không hồi phục hoàn toàn. Điều trị chủ yếu nhằm làm chậm tiến triển bệnh, phòng biến chứng và trì hoãn thời điểm phải điều trị thay thế thận.
Khả năng hồi phục của suy thận phụ thuộc vào thể bệnh, nguyên nhân gây bệnh và thời điểm phát hiện. Với suy thận cấp, nếu nguyên nhân được xử trí kịp thời như bù dịch, kiểm soát nhiễm trùng, ngưng thuốc độc cho thận hoặc giải quyết tắc nghẽn đường tiểu, chức năng thận có thể cải thiện rõ.
Ngược lại, suy thận mạn là quá trình tổn thương kéo dài và thường không hồi phục. Các biện pháp điều trị trong suy thận mạn không nhằm “chữa khỏi hoàn toàn”, mà tập trung vào kiểm soát nguyên nhân, làm chậm diễn tiến bệnh và hạn chế biến chứng.
Khi chức năng thận suy giảm rất nặng, người bệnh có thể phải điều trị thay thế thận bằng chạy thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc hoặc ghép thận để duy trì sự sống.
Nephron là đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản của thận. Mỗi quả thận có rất nhiều nephron cùng hoạt động để lọc máu, tái hấp thu các chất cần thiết và đào thải chất dư thừa ra ngoài qua nước tiểu.
Hầu hết các bệnh lý thận đều gây tổn thương các nephron. Khi số lượng nephron bị tổn thương ngày càng nhiều, khả năng bù trừ của thận giảm dần. Đến một giai đoạn nhất định, thận không còn đủ khả năng duy trì chức năng bình thường và các triệu chứng suy thận bắt đầu xuất hiện rõ.
Suy thận không chỉ ảnh hưởng đến hệ tiết niệu mà còn tác động đến nhiều cơ quan khác trong cơ thể. Các biến chứng có thể tiến triển âm thầm nhưng rất nguy hiểm.
Bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân tử vong quan trọng ở người bệnh suy thận mạn. Vì vậy, kiểm soát huyết áp, đường máu, mỡ máu và cân nặng có vai trò rất quan trọng.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây suy thận. Một số nguyên nhân gây tổn thương thận đột ngột, trong khi những nguyên nhân khác làm thận suy giảm chức năng từ từ qua nhiều năm.
Suy thận cấp thường xảy ra nhanh và có thể liên quan đến giảm tưới máu thận, tổn thương trực tiếp tại thận hoặc tắc nghẽn đường bài xuất nước tiểu.
Suy thận mạn thường là hậu quả của các bệnh lý kéo dài. Trong đó, đái tháo đường và tăng huyết áp là hai nguyên nhân rất thường gặp.
Triệu chứng suy thận thường phát triển từ từ nếu tổn thương thận tiến triển chậm. Do thận có khả năng bù trừ rất tốt, người bệnh ở giai đoạn đầu thường không có biểu hiện rõ ràng.
Khi các triệu chứng xuất hiện, bệnh có thể đã ở giai đoạn muộn hơn. Vì vậy, những người có yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh thận cần được kiểm tra định kỳ.
Một số biểu hiện bất thường khi đi tiểu có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh thận và không nên chủ quan.
Nếu người bệnh có phù nhiều, khó thở, tiểu rất ít, đau ngực, lơ mơ hoặc co giật, cần đến cơ sở y tế ngay để được đánh giá và xử trí kịp thời.
Một số nhóm người có nguy cơ suy thận cao hơn và cần được theo dõi chức năng thận định kỳ.
Người bệnh tăng huyết áp hoặc đái tháo đường nên kiểm tra chức năng thận định kỳ, kể cả khi chưa có triệu chứng, vì đây là hai bệnh lý thường gây tổn thương thận âm thầm.
Chẩn đoán suy thận cần dựa vào triệu chứng lâm sàng, tiền sử bệnh, thăm khám và các xét nghiệm đánh giá chức năng thận. Trong nhiều trường hợp, xét nghiệm máu và nước tiểu có thể phát hiện bệnh trước khi người bệnh có triệu chứng.
Điều trị suy thận phụ thuộc vào suy thận cấp hay mạn, nguyên nhân gây bệnh, mức độ suy giảm chức năng thận và các biến chứng kèm theo.
Với suy thận cấp, mục tiêu là tìm và xử trí nguyên nhân càng sớm càng tốt, đồng thời điều chỉnh rối loạn nước, điện giải và các biến chứng nguy hiểm.
Với suy thận mạn, điều trị cần lâu dài và phối hợp nhiều biện pháp nhằm bảo tồn phần chức năng thận còn lại.
Mục tiêu điều trị suy thận mạn là làm chậm tiến triển bệnh, kiểm soát triệu chứng, phòng biến chứng tim mạch và trì hoãn thời điểm phải điều trị thay thế thận.
Chạy thận nhân tạo là phương pháp sử dụng máy lọc máu để thay thế một phần chức năng của thận. Máu của người bệnh được đưa qua hệ thống lọc nhằm loại bỏ chất độc, dịch dư thừa và điều chỉnh một số rối loạn điện giải.
Phương pháp này thường được chỉ định khi thận suy nặng, không còn đủ khả năng duy trì môi trường bên trong cơ thể. Người bệnh có thể cần chạy thận nhiều lần mỗi tuần và phải tuân thủ lịch điều trị chặt chẽ.
Thẩm phân phúc mạc là phương pháp sử dụng màng bụng của chính người bệnh như một màng lọc tự nhiên. Dịch lọc được đưa vào ổ bụng, sau đó thay ra theo chu kỳ để loại bỏ chất độc và dịch dư thừa.
Ưu điểm của phương pháp này là người bệnh có thể chủ động hơn trong sinh hoạt, có thể thực hiện tại nhà sau khi được hướng dẫn đúng kỹ thuật. Tuy nhiên, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc vô khuẩn để hạn chế nguy cơ nhiễm trùng.
Ghép thận là phương pháp điều trị thay thế thận tối ưu cho nhiều bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối. Sau ghép thận thành công, người bệnh có thể cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống và giảm phụ thuộc vào lọc máu.
Tuy nhiên, ghép thận cần nguồn thận phù hợp, đánh giá toàn diện trước ghép và sử dụng thuốc chống thải ghép lâu dài sau phẫu thuật. Người bệnh cũng cần tái khám định kỳ để theo dõi chức năng thận ghép và phòng ngừa biến chứng.
Suy thận mạn có thể tiến triển âm thầm, nhưng nhiều yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được. Việc thay đổi lối sống và điều trị tốt các bệnh nền có vai trò rất quan trọng.
Người bệnh nên đi khám nếu có các dấu hiệu như phù chân, phù mặt, tiểu ít, tiểu đêm nhiều, nước tiểu có bọt kéo dài, nước tiểu có máu, tăng huyết áp khó kiểm soát, mệt mỏi kéo dài hoặc đau vùng hông lưng.
Đặc biệt, người có bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, suy tim, rối loạn mỡ máu hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh thận nên kiểm tra chức năng thận định kỳ ngay cả khi chưa có triệu chứng.